Lịch sử Trung Quốc được các nhà sử học nghiên cứu chi tiết dựa trên những văn bản ghi chép lịch sử có nguồn gốc khởi đầu từ thế kỷ 16 TCN. Trung Quốc là một trong những nền văn minh lâu đời và có tính liên tục nhất trên thế giới. Các mai rùa với những dấu hiệu khắc trên đó tương tự với chữ viết Trung Quốc cổ thời Nhà Thương (商朝) đã được xác định niên đại bằng phương pháp carbon là có từ khoảng năm 1500 TCN. Những bản khắc đó cho thấy nguồn gốc văn minh Trung Hoa khởi đầu từ các thành bang tại châu thổ sông Hoàng Hà. Năm 221 TCN thường được coi là năm Trung Quốc bắt đầu thống nhất trở thành một vương quốc rộng lớn, hay một đế chế. Các triều đại kế tiếp đã phát triển các hệ thống quan lại cho phép Hoàng đế Trung Quốc kiểm soát một lãnh thổ rộng lớn để trở thành nước Trung Quốc ngày nay.Lịch sử Trung Hoa là lịch sử của một nền văn minh vô cùng độc đặc (infiniment originale: Guillermaz), tuy ra đời sau vài nền văn minh khác: Ai Cập, Lưỡng Hà... nhưng tồn tại lâu nhất. Khoảng 3.000 năm trước, nó xuất hiện từ miền trung du sông Hoàng Hà. Trong khi các bộ lạc chung quanh đều bán khai thì nhà Ân (cuối nhà Thương) và nhà Chu đã giỏi về nông tang, đồ đồng, có một tổ chức xã hội chặt chẽ, một tôn giáo có tính cách xã hội (thờ Thượng đế, thần xã tắc, cha mẹ...), rất ít mê tín, một vũ trụ quan duy vật (thuyết âm dương) và một lối chữ tượng hình, hội ý mà một số nhà ngôn ngữ học hiện nay khen là có thể dùng làm lối chữ quốc tế được; mà sự thực trong non 3.000 năm, nó đã đóng vai trò ngôn ngữ quốc tế trong “thế giới” của Trung Hoa gồm cả chục dân tộc ở Đông Á.[1]
Dưới thời quân chủ ở Trung Quốc, tên nước được gọi theo tên triều đại. Người Trung Quốc cổ đại gọi các tộc lạc hậu ở phía nam là Man (蠻), ở phía đông là Di (夷), ở phía tây là Nhung (戎) và ở phía bắc là Địch (狄); còn nước họ là quốc gia văn minh ở giữa nên họ gọi là Trung Hoa hay Trung Quốc. Tuy nhiên, từ này chỉ dùng để phân biệt với các vùng xung quanh chứ chưa phải là tên nước. Đến năm 1912, chữ Trung Hoa mới trở thành quốc hiệu chính thức nhưng thông thường ta quen gọi là Trung Quốc.
Lịch sử Trung Hoa Dân Quốc
Trung Hoa Dân Quốc (chữ Hán: 中華民國; bính âm: Zhōnghuá Mínguó) là một chính thể tiếp nối sau triều đình nhà Thanh năm 1912, chấm dứt hơn 2.000 năm phong kiến Trung Quốc. Đây là chính thể cộng hòa hiện đại đầu tiên của Trung Quốc và từng lãnh đạo toàn bộ đất nước Trung Quốc trên danh nghĩa từ 1911-1949 và lãnh đạo vùng lãnh thổ Đài Loan từ 1949 đến nay. "Dân quốc" là cách dịch tên gọi thể chế cộng hòa sang Trung văn từ các tiếng châu Âu lúc bấy giờ.
Sau sự thành công lật đổ chính thể nhà Thanh, nhà nước cộng hòa non trẻ lập tức rơi vào nguy cơ bị chia rẽ bởi các quân phiệt địa phương cũ (quân phiệt Bắc Dương). Về mặt đối ngoại, chính thể Dân quốc đã dần thu hồi lại được chủ quyền một số vùng lãnh thổ và thoát dần khỏi sức ép của các cường quốc bên ngoài. Vào năm 1928, nhà nước cộng hòa trên danh nghĩa được thống nhất dưới quyền lãnh đạo của Trung Quốc Quốc Dân Đảng, và đang ở những giai đoạn công nghiệp hoá, hiện đại hóa đầu tiên, tuy nhiên, nó lại rơi vào những cuộc xung đột giữa chính phủ Quốc Dân Đảng, Trung Quốc Cộng Sản Đảng và những quân phiệt mới (về danh nghĩa là thần phục Quốc dân Đảng) cùng với Nhật Bản. Đa số các nỗ lực xây dựng quốc gia đều bị ngừng trệ trong cuộc kháng chiến chống lại Nhật Bản từ năm 1937 đến năm 1945, và sau này là sự bất hòa giữa Quốc dân Đảng và Đảng Cộng sản Trung Quốc khiến việc thành lập chính phủ liên hiệp không bao giờ có thể diễn ra, gây nên cuộc nội chiến Trung Quốc.
Một loạt những hành động sai lầm về chính trị, kinh tế và quân sự khiến Quốc dân Đảng phải thua trận và chạy sang Đài Loan năm 1949, lập ra một nhà nước độc đảng và tự tuyên bố mình là đại diện hợp pháp duy nhất của toàn bộ Trung Quốc. Tuy nhiên, từ khi công cuộc tự do hóa chính trị bắt đầu vào cuối thập kỷ 1970 tại vùng lãnh thổ Đài Loan, Trung Hoa Dân Quốc đã tự chuyển đổi thành một nhà nước riêng biệt, đa đảng và dân chủ đại nghị.
Trung Hoa Dân Quốc (chữ Hán: 中華民國; bính âm: Zhōnghuá Mínguó) là một chính thể tiếp nối sau triều đình nhà Thanh năm 1912, chấm dứt hơn 2.000 năm phong kiến Trung Quốc. Đây là chính thể cộng hòa hiện đại đầu tiên của Trung Quốc và từng lãnh đạo toàn bộ đất nước Trung Quốc trên danh nghĩa từ 1911-1949 và lãnh đạo vùng lãnh thổ Đài Loan từ 1949 đến nay. "Dân quốc" là cách dịch tên gọi thể chế cộng hòa sang Trung văn từ các tiếng châu Âu lúc bấy giờ.
Một loạt những hành động sai lầm về chính trị, kinh tế và quân sự khiến Quốc dân Đảng phải thua trận và chạy sang Đài Loan năm 1949, lập ra một nhà nước độc đảng và tự tuyên bố mình là đại diện hợp pháp duy nhất của toàn bộ Trung Quốc. Tuy nhiên, từ khi công cuộc tự do hóa chính trị bắt đầu vào cuối thập kỷ 1970 tại vùng lãnh thổ Đài Loan, Trung Hoa Dân Quốc đã tự chuyển đổi thành một nhà nước riêng biệt, đa đảng và dân chủ đại nghị.
Lịch sử Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa
Trong nhiều thập kỷ, trên quan điểm chính trị, Cộng hòa nhân dân Trung Hoa từng được biết đến là một thực thể chính trị đồng nghĩa với Trung Quốc lục địa. Về mặt lịch sử, cái tên đó bao hàm những giai đoạn lịch sử gần đây nhất trong lịch sử Trung Quốc nối tiếp sau các chế độ phong kiến kéo dài hàng nghìn năm và nền Cộng hoà. Kỷ nguyên chính thức khởi đầu tại Trung Quốc vào ngày 1 tháng 10 năm 1949, sau một chiến thắng toàn diện trong Nội chiến Trung Quốc, Mao Trạch Đông tuyên bố thành lập nhà nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa trên Quảng trường Thiên An Môn. Kỷ nguyên hiện được gọi là Lịch sử Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa. Vì thế, giai đoạn lịch sử này kéo dài từ năm 1949 đến hiện nay và bao gồm cả những thập kỷ tranh chấp chính trị, kinh tế và cải cách xã hội, cũng như nhiều phong trào gây ảnh hưởng cả bên trong cũng như trên phạm vi quốc tế.
Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa hiện nay
Cuộc khủng hoảng lớn nhất tầng lớp lãnh đạo mới của Trung Quốc do Hồ Cẩm Đào lãnh đạo phải đối mặt trong thế kỷ 21 là vấn đề về sức khỏe cộng đồng với đại dịch SARS. Lập trường của Trung Quốc trong cuộc chiến chống khủng bố khiến nước này trở nên gần gũi hơn với Hoa Kỳ, nhưng đã bị chỉ trích khi đàn áp những người theo chủ nghĩa ly khai tại Tân Cương. Kinh tế tiếp tục tăng trưởng ở mức hai con số và sự phát triển tại các vùng nông thôn đã trở thành mục tiêu quan trọng của chính phủ. Kiểm duyệt thông tin và vị thế chính trị cũng như tương lai Đài Loan vẫn còn chưa chắc chắn. Kinh tế tiếp tục tăng trưởng khi Hồng Kông và Thượng Hải ngày càng mở rộng và Bắc Kinh tổ chức thành công Thế vận hội Mùa hè 2008. Với 1.3 tỷ dân, Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa đã trở thành một nhân tố quan trọng trong tương lai thế giới.
Trong nhiều thập kỷ, trên quan điểm chính trị, Cộng hòa nhân dân Trung Hoa từng được biết đến là một thực thể chính trị đồng nghĩa với Trung Quốc lục địa. Về mặt lịch sử, cái tên đó bao hàm những giai đoạn lịch sử gần đây nhất trong lịch sử Trung Quốc nối tiếp sau các chế độ phong kiến kéo dài hàng nghìn năm và nền Cộng hoà. Kỷ nguyên chính thức khởi đầu tại Trung Quốc vào ngày 1 tháng 10 năm 1949, sau một chiến thắng toàn diện trong Nội chiến Trung Quốc, Mao Trạch Đông tuyên bố thành lập nhà nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa trên Quảng trường Thiên An Môn. Kỷ nguyên hiện được gọi là Lịch sử Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa. Vì thế, giai đoạn lịch sử này kéo dài từ năm 1949 đến hiện nay và bao gồm cả những thập kỷ tranh chấp chính trị, kinh tế và cải cách xã hội, cũng như nhiều phong trào gây ảnh hưởng cả bên trong cũng như trên phạm vi quốc tế.
Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa hiện nay

























